tin hoạt động viện

Hội thảo khoa học “Biến động kinh tế, chính trị của thế giới, khu vực: Giai đoạn từ 2009 đến nay và dự báo đến 2030”

20/06/2017

Sáng ngày 19/06/2017, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Biến động kinh tế, chính trị của thế giới, khu vực: Giai đoạn từ 2009 đến nay và dự báo đến 2030”. Hội thảo được thực hiện trong khuôn khổ Nhiệm vụ cấp quốc gia “Những biến động của thế giới, khu vực, tác động đến Việt Nam hiện nay và định hướng chính sách”(Mã số KX.04.22/16-20) do PGS.TS. Chu Đức Dũng – Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới làm chủ nhiệm. Nhiệm vụ thuộc Chương trình “Nghiên cứu khoa học lý luận chính trị giai đoạn 2016-2020”.

Hội thảo đã quy tụ nhiều chuyên gia và nhà khoa học đến từ Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Chiến lược Quốc phòng, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới…

 

                                                                                                    

5 tham luận trình bày tại hội thảo tập trung vào hai chủ đề chính:

Những biến động về kinh tế của thế giới và khu vực

Mở đầu hội thảo với tham luận “Biến động tài chính-tiền tệ thế giới giai đoạn sau khủng hoảng đến nay và triển vọng”,TS. Nguyễn Bình Giangđã chỉ ra bốn vấn đề lớn của hệ thống tài chính-tiền tệ sau khủng hoảng 2009 là nợ, dòng vốn ròng rút khỏi các nền kinh tế mới nổi, vấn đề tăng trưởng bình thường mới vàphối hợp quốc tế trong chính sách vĩ mô. Diễn giả cũng phân tích một số nguy cơ đối với triển vọng tài chính-tiền tệ thế giới như rủi ro từ nền kinh tế Trung Quốc, nguy cơ từ bảo hộ thương mại, liên kết kinh tế EU và vấn đề già hóa dân số…

Phát biểu đề dẫn và báo cáo tại Hội thảo, PGS. TS. Chu Đức Dũng đã trình bày về những xu hướng mới của hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đến năm 2030, tập trung vào ba nhóm vấn đề lớn là thể chế quốc tế, tập hợp lực lượng (khối, khu vực), và thay đổi tương quan sức mạnh giữa các quốc gia. Trong đó, PGS. TS. Chu Đức Dũng nhấn mạnh tới năm xu hướng chủ yếu hiện nay là: i) hội nhập toàn cầu đang trì trệ, ii) các thể chế toàn cầu đang gặp vấn đề lớn và đứng trước áp lực thay đổi, iii) xuất hiện, thử nghiệm và hình thành những dạng liên kết và hội nhập mới, iv) chồng lấn, đan xen lẫn nhau giữa các tổ chức hội nhập kinh tế quốc tế, và v) gia tăng cạnh tranh giữa các thể chế.Năm kịch bản của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là: các xu hướng hiện tại sẽ tiếp diễn trong tương lai, sự nổi lên của hội nhập toàn cầu, hội nhập khu vực (2 cực và đa cực), hội nhập song phương và kịch bản xấu nhất là hội nhập trì trệ do bất ổn về an ninh và lợi ích và quan hệ láng giềng nhiễu.

TS. Hoàng Xuân Long phân tích một số đặc điểm nổi bật về khoa học-công nghệ và đổi mới của thế giới từ sau khủng hoảng đến nay, trong đó tác giả tập trung vào mối quan hệ giữa khoa học-công nghệ và kinh tế dưới tác động của cuộc khủng hoảng. TS. Hoàng Xuân Long đi sâu trình bày bảy nhóm đặc điểm của khoa học-công nghệ và xem xét lại một số quan điểm đã tồn tại về mối quan hệ giữa KH&CN và kinh tế sau khủng hoảng (quan điểm đúng, quan điểm sai và các quan điểm cần nghiên cứu thêm).

 

 

Những biến động về an ninh, chính trị, quân sự, quốc phòng

Báo cáo về những biến động chính trị thế giới và khu vực giai đoạn 2009-nay, PGS. TS. Hoàng Khắc Nam khẳng định những biến động chính trị hiện nay và trong thời gian tới là kết quả của chín nhóm nguyên nhân. Một là, sự thay đổi của cấu trúc khu vực (cuộc đấu tranh nhất siêu đa cường, đa cực, đấu tranh 2 cực, sự chênh nhau giữa cấu trúc khu vực và cấu trúc thế giới, sự bất tương xứng giữa ba nhân tố cấu trúc an ninh, cấu trúc kinh tế và phi vật chất). Hai là, sự thay đổi trong quan hệ giữa các nước lớn. Ba là, nguyên nhân kinh tế, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế và sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc. Bốn là, nguy cơ xung đột giữa các quốc gia. Năm là, xuất hiện các đe dọa an ninh phi truyền thống và xuyên quốc gia như các thảm họa lớn. Sáu là, những biến động mới của chủ nghĩa quốc gia. Bảy là, xu hướng hợp tác (xung đột khi đang hợp tác, nhu cầu hợp tác gia tăng). Tám là, sự phát triển của khoa học-công nghệ làm thay đổi sức mạnh kinh tế và quân sự. Chín là, các nguyên nhân chủ quan như sự đụng độ về các giá trị,quan điểm và tư tưởng nhận thức.

Báo cáo về những biến động quân sự - quốc phòng ở khu vực trong giai đoạn 2009-nay, PGS. TS. Nguyền Hồng Quân trình bày về một số những diễn biến chính ở khu vực thời gian qua như việc Trung Quốc triển khai điều chỉnh chiến lược quốc phòng, Mỹ thay đổi phương thức tác chiến và chiến lược quân sự quốc gia. Tại Đông Nam Á, các vấn đề quân sự - quốc phòng đang nổi lên hiện nay là tranh chấp chủ quyền biển đảo, việc điều chỉnh chính sách đối ngoại của các quốc gia ASEAN, hình thành cấu trúc an ninh khu vực mới (ADMM+) và an ninh không gian mạng. Từ đó, tác giả chỉ ra các tác động của những biến động này đối với Việt Nam, bao gồm cả tác động thuận và không thuận, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới hai thách thức lớn nhất mà Việt Nam phải đổi mặt là thách thức về chủ quyền an ninh quốc gia và thách thức an ninh mạng. Trước tình hình này, Việt Nam cần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, tăng cường đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, biên giới, hoàn thiện cấu trúc an ninh khu vực mới và đối phó với đe dọa an ninh mạng.

Tại phiên thảo luận,Hội thảo đã nhận được nhiều ý kiến trao đổi, bình luận của các đại biểu về xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hợp tác quốc tế và vấn đề quân sự-quốc phòng. Nhiều nhận định cho rằng những biến động hiện nay của nền kinh tế quốc tế chỉ là tạm thời, những trục trặc hiện nay chỉ là bước lùi, còn những nguyên tắc cơ bản về hội nhập và hợp tác vẫn sẽ tiếp tục được các quốc gia phát triển và bồi đắp. Liên kết kinh tế trên phạm vi toàn cầu sẽ vẫn được triển khai bất chấp các chính sách và những đe dọa cản trở.

Các ý kiến cũng chỉ ra rằng Việt Nam cần phải tiến hành cải cách thể chế và sớm ban hành các chính sách trọng dụng nhân tài, đồng thời, cần tỉnh táo khi đưa ra các quyết định, chẳng hạn như việc tham gia các hiệp định thương mại, hay lựa chọn lĩnh vực đầu tư khoa học-công nghệ… Việt Nam cũng cần xây dựng một khung khổ lý thuyết về cách thức nhìn nhận thế giới bởi Việt Nam hiện nay chưa có khung khổ và ngôn ngữ chung để nhìn nhận thế giới với các quốc gia khác, ngay cả các quốc gia trong khu vực.